Một số bài thuốc từ cây sinh địa

Sinh địa là một trong những vị thuốc được sử dụng phổ biến và lâu đời của Y học cổ truyền. Một số bài thuốc trị bệnh có sinh địa được sử dụng phổ biến:

Sinh địa là một vị thuốc được chế biến từ rễ của cây sinh địa hoàng, có vị hơi ngọt, hơi đắng, tính rất hàn.

Rễ của cây sinh địa hoàng được dùng để chế biến cho vị thuốc sinh địa.

Rễ của cây sinh địa hoàng được dùng để chế biến cho vị thuốc sinh địa.

Do có tính lương huyết và chỉ huyết nên sinh địa thường được dùng để điều trị các bệnh thuộc chứng nhiệt như sốt, đái tháo đường, chảy máu cam hay chảy máu chân răng, táo bón, trĩ kèm chảy máu, hoặc rong kinh, rong huyết của phụ nữ, mụn nhọt và mẩn ngứa...Ngoài ra sinh địa còn được dùng điều trị các bệnh về thận và tuyến thượng thận. Hiện nay, sinh địa cũng được sử dụng chữa trị các bệnh tự miễn như: Luput, viêm khớp dạng thấp, bệnh xơ cứng...

Bài thuốc chữa bệnh từ sinh địa

Một số bài thuốc trị bệnh có sinh địa được sử dụng phổ biến:

1. Chữa sốt rét dùng: sinh địa với miết giáp, mỗi vị 12g; thạch cao 16g; tri mẫu và đan bì, mỗi vị 8g. Đem sắc uống ngày một thang.

2. Chữa suy nhược cơ thể, kém ăn, táo bón, sốt nhẹ, hoặc sau nhiễm khuẩn dùng: sinh địa, sa sâm, mạch môn và ngọc trúc, mỗi vị 12g: sau khi sắc thì thêm 12g đường phèn, quấy đều, uống sau bữa ăn, uống ngày 1 thang.

3. Chữa rò hậu môn, trực tràng do lao dùng: sinh địa với thục địa, mỗi vị 12g; thanh cao với miết giáp, mỗi vị 16g; mạch môn, tri mẫu, địa cốt bì, hoàng bá và hoàng cầm, mỗi vị 12g. Đem sắc uống ngày 1 thang trước bữa ăn.

4. Trị rong kinh, rong huyết của phụ nữ dùng: sinh địa 12g; bồ hoàng 20g; địa du (sao đen), a giao (sao đen), huyết dư (tóc rối) với tông lư, kinh giới tuệ, mẫu đơn bì (đều thán sao), bạch thược, mỗi vị 12g. Tất cả các vị đem tán mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần khoảng 10-12g trước bữa ăn.

5. Trị đái tháo đường týp 2 dùng: sinh địa 30g, sinh hoàng kỳ, thạch hộc với mạch môn, mỗi vị 9g; huyền sâm 15g và sinh cam thảo 6g. Đem sắc uống ngày một thang, uống trước bữa ăn.

6. Chữa động thai ra máu dùng: sinh địa, thục địa, hoài sơn với tục đoạn mỗi vị 12g; bạch thược, hoàng cầm, hoàng bá, mỗi vị 8g và cam thảo 6g. Đem sắc uống, ngày 1 thang trước bữa ăn.

7. Trị tân dịch khô kiệt, háo khát, kinh nguyệt không đều, lượng ít hay đau đầu dùng: sinh địa 40g với địa cốt bì, mạch môn mỗi vị 12g: bạch thược với a giao, mỗi vị 16g và huyền sâm 20g. Đem sắc ngày 1 thang, chia uống làm 3 lần trước bữa ăn.

Chú ý: Do sinh địa có tính hàn vì vậy sẽ không thích hợp với các trường hợp phụ nữ đang mang thai, hoặc đang ở thời kỳ cho con bú. Vì tính lạnh của sinh địa có thể dẫn đến sôi bụng, tiêu chảy hoặc gây trướng bụng đầy hơi; đôi khi còn có thể gây nôn, mửa và đau bụng nên những người tỳ vị hư hàn, bụng đầy trướng hay viêm đại tràng thể hàn cũng không nên dùng sinh địa.

Tổng hợp

Lưu ý: Các thông tin trên Tintucsuckhoe.net chỉ mang tính chất tham khảo, khi sử dụng phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sĩ.
Gửi câu hỏi cho Bác sỹ
Cùng chủ đề
  • Bình luận facebook
  • Bình luận google +