Thành phần công dụng và dược lý của cây đu đủ

Đủ đủ tại Việt Nam từ lâu đã là một loài cây quen thuộc. Trong đủ đủ chín chứa rất nhiều chất có lợi cho sức khỏe, nhựa đu đủ có thể xuất khẩu, đu đủ xanh, hoa, rễ cây, lá cây ngoài để ăn ra còn có thể làm thuốc chữa bệnh. Trong đó phải kể đến tác dụng chữa bệnh như chữa các bệnh về đường rượt, phòng ngừa ung thư, trị mụn, tiểu đường...

Mô tả cây

Cây đu đủ hay còn có tên là phan qua thụ, lô hong phlê, mắc hung, cà lào, phiên mộc.

Tên khoa học là carica papaya L.

Thuộc họ nhà đu đủ papayaceae.

Cây đu đủ cao từ 3- 7m, thân thẳng, hoặc đôi khi có phân nhánh. Vỏ cây có rất nhiều sẹo của cuống lá. Lá mọc so le trên ngọn cây, phiến lá to và rộng chia làm 6-9 thùy, thùy hình trứng nhọn, mép thùy có răng cưa không đều, cuống lá rỗng và dài từ 30-50cm. Hoa trắng nhạt hay xanh nhạt. Hoa đực thường mọc ở kẽ lá kết thành chùy có cuống rất dài.

Hoa cái tràng dài hơn tràng của hoa đực, mọc thành chùy ở kẽ lá. Loại quả thịt, hình trứng to, dài từ 20-30cm, đường kính từ 15-20cm. Thịt quả dày, lúc xanh có màu xanh lục, sau chín ngả màu vàng cam. Trong ruột quả  khi chín có rất nhiều hạt đen to bằng hạt tiêu, xung quanh hạt có lớp nhầy.

Thành phần công dụng và dược lý của cây đu đủ


Phân bố, thu hái và chế biến

Tại Việt Nam, cây đu đủ được trồng ở khắp mọi nơi, nhưng việc trồng quy mô lớn thì còn ít.

Trồng cây bằng hạt: có thể gieo trồng cây con sang chỗ khác hoặc trồng ngay tại chỗ bằng cách đào lỗ, mỗi một lỗ gieo 3-4 hạt. Vấn đề khó nhất trong việc trồng đu đủ là phân biệt cây đực, cây cái vì cho đến khi ra hoa cây đu đủ đực và cái cơ bản rất giống nhau.

Sau khi trồng được 8 hay 10 tháng thì có thể thu hoạch. Cây đu đủ cung cấp các bộ phận dùng làm thuốc như: quả đu đủ xanh và chín, hoa đu đủ, hạt đu đủ.

Thành phần hóa học

Quả đu đủ chín chứa khoảng 90% nước và các chất đường mà trong đó chủ yếu là glucoza 8,5%, một ít protein, chất béo, muối vô cơ ( như canxi, photpho, sắt) , các loại vitamin a, b và c.

Quả đu đủ xanh và các bộ phận khác như thân, rễ, lá cây đều chứa một chất nhựa mủ mà nhiều nhất ở quả xanh. Một quả xanh cho khoảng 4% trọng lượng nhựa mủ. Một cây có thể cho khoảng 100g nhựa trong 1 năm. Khi quả chín chất nhựa mủ kia không còn nữa mà chỉ còn thứ nhựa màu vàng đỏ. Trong nhựa mủ có chất nhựa, chất cao su các axit amin: leuxin, chất béo, tyrosin, axit malic và men thủy phân, chất mỡ, men papain,chất men papain có tác dụng tiêu hóa các chất thịt, protit giải phóng các axit amin như glycocola, acginin, tryptophan, alanin.

Trong lá, quả và hạt(chủ yếu ở lá) có chứa một chất acaloit đắng còn gọi là cacpain và chất glocoxit gọi là cacpozit. Tác dụng của cacpain thì gần như digitalin đấy là một thuốc mạnh tim.

Trong hạt và các bộ phận khác của cây người ta còn thấy các tế bào chứa myrozin và các tế bào khác chứa kali myronat. Khi đem giã hạt với nước, hai chất đó tiếp xúc với nhau và cho ra tinh dầu chứa mùi diêm sinh, hơi hắc, giống chất isothyoxyanat allyl.
Còn trong rễ người ta thấy nhiều kali myronat, trong lá có nhiều myrozin, trong vỏ hạt có nhiều myrozin nhưng không có kali myronat.

Tác dụng dược lý

 Men papain có tác dụng giống như men pepsin của dạ dày và men trypsin của tụy tạng trong tiêu hóa các chất thịt.

Nó làm một số vi trùng gram dương và gram âm ngừng phát triển. Những vi trùng như staphyllococ hay vi trùng thương hàn rất nhạy cảm đối với tác dụng của papain.

Ngoài ra papain còn có tác dụng làm đông sữa và có tác dụng làm giảm độc tố đối với toxin và toxanbumin.
Nhựa đu đủ được dùng làm vị thuốc giun ở nhiều nơi, chất cacpain thì làm chậm nhip tim, có người đã dùng chất này để thay thế thuốc chữa tim digitalis.
Gần đây, người ta phát hiện thấy hạt đu đủ còn có tính chất kháng sinh mạnh.

Công dụng

Đu đủ chín được xem là một món ăn bồi bổ và giúp tiêu hóa các chất thịt, lòng trắng trứng.

Đu đủ xanh nấu kỹ với thịt gà đã được một số đơn vị quân y dùng điều trị bệnh loét dạ dày và đã có kết quả. Quả đu đủ xanh đem nghiền với nước còn được dùng để bôi mặt hoặc tay để chữa các vết tàn hương ở mặt và tay.

Nhựa đu đủ dùng làm thuốc giun nhưng cần chú ý tránh nguy hiểm đối với trẻ em và người loét dạ dày.

Nước sắc lá đu đủ được dùng để giặt những vết máu có trên vải và quần áo, hoặc là để rửa các vết thương, các vết lở loét.

Rễ đu đủ có thể sắc uống làm thuốc cầm máu trong bệnh băng huyết và sỏi thận.

Hoa đu đủ đực tươi hoặc có thể phơi khô hấp lên với đường hoặc đường phèn dùng để chữa bệnh ho, viêm ống phổi và mất tiếng.

Bên cạnh đó nhựa đu đủ còn có thể dùng để xuất khẩu, và có giá trị xuất khẩu khá cao.

Tổng Hợp

Lưu ý: Các thông tin trên Tintucsuckhoe.net chỉ mang tính chất tham khảo, khi sử dụng phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sĩ.
Gửi câu hỏi cho Bác sỹ
  • Bình luận facebook